Chính quyền địa phương

Nâng cao hiệu suất làm việc của công chức cấp xã theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

09/06/2026 10:44

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, nâng cao hiệu suất làm việc của công chức cấp xã trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở cơ sở. Trên cơ sở phân tích quan điểm của Đảng, đánh giá thực trạng hiệu suất làm việc của công chức cấp xã hiện nay, bài viết đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu suất làm việc của công chức cấp xã theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, góp phần xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả và phục vụ Nhân dân.

Từ khóa: công chức cấp xã; hiệu suất làm việc; cải cách hành chính; chuyển đổi số; Đại hội XIV của Đảng; quản lý công vụ.

Abstract: In the context of accelerating administrative reform, digital transformation, and implementing the two-tier local government model, improving the work performance of commune-level civil servants has become an urgent requirement to ensure the effectiveness and efficiency of state management at the grassroots level. Based on an analysis of the Party’s viewpoints and an assessment of the current work performance of commune-level civil servants, this article proposes solutions to enhance their work performance in line with the spirit of the 14th National Congress of the Party, thereby contributing to the development of a professional, modern, effective, efficient, and people-oriented public administration.

Keywords: commune-level civil servants; work performance; administrative reform; digital transformation; the 14th National Congress of the Party; public service management.


 

Ảnh minh họa

Đặt vấn đề

Cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp nhất và thường xuyên nhất. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước dù đúng đắn đến đâu cũng chỉ có thể đi vào cuộc sống thông qua tổ chức thực hiện ở cơ sở. Trong đó, công chức cấp xã giữ vai trò đặc biệt quan trọng, bởi họ là lực lượng trực tiếp tham mưu, xử lý thủ tục hành chính, quản lý nhà nước trên địa bàn, tiếp xúc với Nhân dân, giải quyết yêu cầu hằng ngày của người dân và doanh nghiệp.

Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu xây dựng hệ thống quản lý nhà nước, quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, phục vụ và kiến tạo phát triển; xây dựng chính phủ số, chính quyền số; xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả. Các định hướng này được nhiều công trình phân tích như một điểm nhấn quan trọng của Văn kiện Đại hội XIV về đổi mới quản trị quốc gia.

Trong bối cảnh đó, nâng cao hiệu suất làm việc của công chức cấp xã không chỉ là yêu cầu kỹ thuật quản trị nhân sự, mà là vấn đề chính trị - hành chính quan trọng, trực tiếp liên quan đến hiệu lực, hiệu quả của chính quyền cơ sở, chất lượng phục vụ Nhân dân, niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và năng lực thực thi của nền hành chính.

Đặc biệt, khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai, cấp xã, phường, đặc khu được trao thêm quyền hạn, trách nhiệm và phải chủ động hơn trong điều hành phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, cung ứng dịch vụ công. Vì vậy, nghiên cứu nâng cao hiệu suất làm việc của công chức cấp xã theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.

1. Một số quan điểm của Đảng về nâng cao hiệu suất làm việc của công chức cấp xã theo tinh thần Đại hội XIV

Chính quyền cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và giải quyết phần lớn các nhu cầu thiết yếu của người dân. Trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, yêu cầu xây dựng nền hành chính hiện đại, hiệu lực, hiệu quả và phục vụ Nhân dân đặt ra đòi hỏi ngày càng cao đối với chất lượng, năng lực và hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức cấp xã.

Hiệu suất làm việc của công chức cấp xã có thể hiểu là mức độ đạt được kết quả thực thi công vụ so với nguồn lực, thời gian, thẩm quyền, điều kiện làm việc và yêu cầu nhiệm vụ được giao. Hiệu suất không chỉ được đo bằng số lượng hồ sơ giải quyết, mà còn bằng chất lượng tham mưu, mức độ hài lòng của người dân, tính đúng pháp luật, tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ, khả năng phối hợp, mức độ ứng dụng công nghệ số và năng lực xử lý tình huống ở cơ sở.

Hiệu suất làm việc của công chức cấp xã có thể được xem xét trên các phương diện sau: Một là, hiệu suất về kết quả công việc, thể hiện ở mức độ hoàn thành nhiệm vụ, số lượng và chất lượng hồ sơ được giải quyết, tỷ lệ hồ sơ đúng hạn, khả năng xử lý công việc phát sinh. Hai là, hiệu suất về thời gian, thể hiện ở khả năng rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính, giảm chờ đợi, giảm đi lại, giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp. Ba là, hiệu suất về chất lượng phục vụ, thể hiện ở thái độ văn minh, trách nhiệm, tận tụy, tôn trọng Nhân dân, hướng dẫn rõ ràng, giải thích đúng pháp luật, không gây phiền hà, sách nhiễu. Bốn là, hiệu suất về năng lực số, thể hiện ở khả năng sử dụng hệ thống phần mềm, dịch vụ công trực tuyến, dữ liệu dân cư, chữ ký số, hồ sơ điện tử, nền tảng quản lý văn bản và điều hành. Năm là, hiệu suất về trách nhiệm công vụ, thể hiện ở ý thức kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm giải trình, tinh thần đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Như vậy, hiệu suất làm việc của công chức cấp xã là khái niệm tổng hợp, kết hợp giữa năng lực, động lực, điều kiện làm việc, cơ chế quản lý và văn hóa công vụ.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả, phục vụ và kiến tạo phát triển; xây dựng Chính phủ số, chính quyền số và nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả. Đây là định hướng chính trị quan trọng tác động trực tiếp đến yêu cầu nâng cao hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức cấp xã trong giai đoạn hiện nay.

Đại hội XIV đồng thời xác định tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và cấp cơ sở, có tư duy đổi mới, năng lực quản trị tiên tiến, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Quan điểm này cho thấy Đảng không chỉ đặt ra yêu cầu về phẩm chất chính trị và đạo đức công vụ mà còn đặc biệt nhấn mạnh năng lực thực thi, khả năng thích ứng và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức trong điều kiện phát triển mới của đất nước.

Trong bối cảnh đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phân định rõ thẩm quyền, tăng cường trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực. Điều này đòi hỏi công chức cấp xã phải nâng cao năng lực thực thi công vụ, chủ động hơn trong giải quyết công việc và chịu trách nhiệm rõ ràng hơn đối với kết quả thực hiện nhiệm vụ.

Một điểm nhấn quan trọng trong Văn kiện Đại hội XIV là yêu cầu đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; xây dựng chính quyền số và xã hội số. Trong điều kiện đó, công chức cấp xã không chỉ cần đáp ứng yêu cầu về trình độ chuyên môn mà còn phải có năng lực số, kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin và khả năng làm việc trong môi trường điện tử. Hiệu suất làm việc của công chức cấp xã vì vậy ngày càng gắn chặt với khả năng khai thác dữ liệu, sử dụng nền tảng số và đổi mới phương thức thực thi công vụ.

Đại hội XIV cũng tiếp tục khẳng định yêu cầu xây dựng nền công vụ phục vụ Nhân dân, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm của hoạt động quản lý nhà nước. Theo đó, hiệu suất làm việc của công chức không chỉ được đo bằng khối lượng công việc hoàn thành mà còn phải được đánh giá thông qua chất lượng phục vụ, mức độ hài lòng của người dân và hiệu quả thực tế của hoạt động quản lý nhà nước ở cơ sở.

Bên cạnh những định hướng chiến lược nêu trên, Đại hội XIV cũng đặt ra yêu cầu khắc phục tình trạng né tránh trách nhiệm, sợ sai, làm việc cầm chừng trong một bộ phận cán bộ, công chức hiện nay; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám đổi mới vì lợi ích chung. Đây là cơ sở quan trọng nhằm tạo động lực đổi mới sáng tạo, nâng cao tinh thần trách nhiệm và hiệu suất làm việc của công chức cấp xã trong thực thi công vụ.

Như vậy, quan điểm của Đảng tại Đại hội XIV đã đặt ra những yêu cầu toàn diện đối với đội ngũ công chức cấp xã cả về phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ, năng lực chuyên môn, năng lực số, tư duy đổi mới và trách nhiệm phục vụ Nhân dân. Đây là cơ sở chính trị quan trọng để nghiên cứu, đề xuất và triển khai các giải pháp nâng cao hiệu suất làm việc của công chức cấp xã trong điều kiện xây dựng nền hành chính hiện đại và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hiện nay.

2. Bối cảnh mới, áp lực mới và những kết quả bước đầu về hiệu suất làm việc của công chức cấp xã

2.1. Bối cảnh mới tác động đến hiệu suất làm việc của công chức cấp xã

Từ ngày 01/7/2025, Việt Nam vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp gồm cấp tỉnh và cấp xã, thay cho mô hình 3 cấp trước đây. Đây là thay đổi có tính cải cách sâu rộng về tổ chức bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương, hướng tới mục tiêu tinh gọn tổ chức, giảm tầng nấc trung gian, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị và phục vụ Nhân dân tốt hơn. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2025 thể hiện tư duy đổi mới quản trị địa phương theo hướng hiện đại, kiến tạo phát triển, tháo gỡ điểm nghẽn và phân định rõ thẩm quyền giữa các cấp chính quyền.

Trước hết, việc tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp làm thay đổi căn bản vị trí, vai trò của cấp xã. Nếu trước đây cấp xã chủ yếu là cấp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ quản lý hành chính cơ sở, chịu sự hướng dẫn, kiểm tra thường xuyên của cấp huyện, thì trong mô hình mới, cấp xã trở thành cấp chính quyền trực tiếp đảm nhận nhiều nhiệm vụ quản lý nhà nước trước đây thuộc cấp huyện. Bối cảnh này tác động trực tiếp đến hiệu suất làm việc của công chức cấp xã ở nhiều phương diện. Trước hết là sự gia tăng mạnh về khối lượng, phạm vi và mức độ phức tạp của công việc. Qua rà soát có 474 nhiệm vụ được quy định trong 104 luật, 249 nghị định, thông tư cần phân cấp hoặc phân định lại; dự kiến phân cấp 140 nhiệm vụ cho địa phương, phân định lại thẩm quyền chính quyền cấp xã với khoảng 300 nhiệm vụ, cùng với 90/99 nhiệm vụ đang nằm trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương hiện hành. Điều này cho thấy công chức cấp xã không chỉ giải quyết các thủ tục hành chính thông thường mà còn phải tiếp nhận nhiều nhiệm vụ chuyên môn phức tạp hơn về đất đai, xây dựng, quy hoạch, môi trường, tài chính, an sinh xã hội, hộ tịch, tư pháp, trật tự đô thị, nông nghiệp, chuyển đổi số và quản lý dân cư.

Thứ hai, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp làm thay đổi yêu cầu về năng lực của công chức cấp xã. Trong điều kiện không còn cấp huyện trung gian, công chức cấp xã phải có năng lực tham mưu, tổ chức thực hiện, phối hợp liên ngành, xử lý tình huống và chịu trách nhiệm trực tiếp cao hơn. Hiệu suất làm việc vì vậy không thể chỉ được đánh giá bằng số lượng hồ sơ đã giải quyết, mà phải được nhìn nhận trên cơ sở chất lượng tham mưu, tiến độ xử lý, tính đúng pháp luật, mức độ hài lòng của người dân, khả năng phối hợp và trách nhiệm giải trình. Đây là sự chuyển dịch từ “hiệu suất hành chính” sang “hiệu suất quản trị công”.

Thứ ba, việc mở rộng quy mô đơn vị hành chính cấp xã sau sắp xếp làm thay đổi không gian phục vụ và áp lực công việc của công chức. Nhiều xã mới có diện tích rộng hơn, dân số đông hơn, địa bàn quản lý phức tạp hơn. Điều này khiến công chức cấp xã phải phục vụ số lượng người dân lớn hơn, giải quyết nhiều loại nhu cầu hơn, đồng thời phải bảo đảm tính liên tục, thông suốt của dịch vụ công. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Công điện số 90/CĐ-TTg ngày 17/6/2025 về bảo đảm thủ tục hành chính thông suốt, hiệu quả, không bị gián đoạn khi sắp xếp đơn vị hành chính và triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Điều này cho thấy yêu cầu duy trì hiệu suất làm việc ổn định trong giai đoạn chuyển tiếp là nhiệm vụ rất cấp thiết.

Thứ tư, bối cảnh mới đặt ra áp lực lớn về bố trí, sắp xếp và sử dụng đội ngũ công chức cấp xã. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, số lượng, cơ cấu và vị trí việc làm của công chức cấp xã có nhiều thay đổi. Bộ Nội vụ đã có hướng dẫn về sắp xếp, bố trí công chức cấp xã mới, cho thấy vấn đề nhân sự là một khâu trọng yếu để bảo đảm vận hành chính quyền địa phương 2 cấp. Nếu bố trí công chức không phù hợp với chuyên môn, năng lực và vị trí việc làm thì hiệu suất công vụ sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp; ngược lại, nếu thực hiện tốt nguyên tắc “chọn người theo việc”, cấp xã có thể phát huy tốt hơn năng lực của đội ngũ sau sắp xếp.

Thứ năm, chuyển đổi số trở thành điều kiện bắt buộc để nâng cao hiệu suất làm việc của công chức cấp xã. Khi cấp xã tiếp nhận thêm nhiều nhiệm vụ, nếu vẫn vận hành chủ yếu bằng phương thức thủ công thì dễ dẫn đến quá tải, chậm trễ và sai sót. Do đó, công chức cấp xã phải sử dụng thành thạo hệ thống quản lý văn bản điện tử, dịch vụ công trực tuyến, cơ sở dữ liệu dân cư, chữ ký số, hồ sơ điện tử và các nền tảng điều hành số. Chuyển đổi số không chỉ là công cụ kỹ thuật mà còn là phương thức tổ chức lại quy trình công vụ, giúp giảm thời gian xử lý, tăng tính minh bạch và nâng cao khả năng giám sát hiệu quả làm việc.

Thứ sáu, mô hình mới làm tăng yêu cầu về trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực ở cấp xã. Khi thẩm quyền được phân cấp mạnh hơn, quyền quyết định của chính quyền cấp xã và công chức tham mưu cũng lớn hơn. Điều này đòi hỏi công chức cấp xã phải tuân thủ nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính, quy trình pháp luật và chuẩn mực đạo đức công vụ. Hiệu suất làm việc trong bối cảnh này không thể tách rời tính liêm chính, minh bạch và trách nhiệm cá nhân. Một quyết định nhanh nhưng sai pháp luật, thiếu công khai hoặc gây phiền hà cho người dân không thể được coi là có hiệu suất cao.

Thứ bảy, bối cảnh mới làm nổi rõ sự khác biệt về điều kiện thực thi công vụ giữa các địa phương. Những địa phương có hạ tầng số tốt, đội ngũ công chức được đào tạo bài bản, cơ sở vật chất đầy đủ sẽ có khả năng thích ứng nhanh hơn. Ngược lại, các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, địa bàn rộng, dân cư phân tán, thiếu công chức chuyên môn hoặc hạ tầng công nghệ yếu sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Thực tế tại một số địa phương cho thấy sau ngày 01/7/2025, có xã thiếu nhiều công chức chuyên môn, trong đó có các lĩnh vực quan trọng như lâm nghiệp, xây dựng, giao thông, quy hoạch, công nghệ thông tin và y tế. Đây là yếu tố tác động trực tiếp đến khả năng duy trì hiệu suất làm việc ổn định của công chức cấp xã.

Thứ tám, yêu cầu phục vụ người dân ngày càng cao cũng là một nhân tố quan trọng của bối cảnh mới. Khi chính quyền cấp xã được trao nhiều thẩm quyền hơn, người dân kỳ vọng nhiều hơn vào khả năng giải quyết công việc nhanh chóng, đúng pháp luật, thuận tiện và minh bạch ngay tại cơ sở. Vì vậy, công chức cấp xã phải chuyển mạnh từ tư duy “giải quyết theo thủ tục” sang tư duy “phục vụ và kiến tạo giá trị công”. Hiệu suất làm việc không chỉ được đo bằng tốc độ xử lý hồ sơ mà còn bằng mức độ hài lòng, sự tin cậy của người dân và khả năng giảm chi phí tuân thủ cho cá nhân, tổ chức.

Từ những phân tích trên có thể thấy, bối cảnh chính quyền địa phương 2 cấp đã tạo ra sự thay đổi căn bản đối với hiệu suất làm việc của công chức cấp xã. Cấp xã không còn chỉ là cấp hành chính cơ sở theo nghĩa truyền thống, mà trở thành cấp chính quyền trực tiếp, toàn diện, gần dân nhất và chịu trách nhiệm lớn hơn trong quản trị địa phương. Vì vậy, nâng cao hiệu suất làm việc của công chức cấp xã hiện nay phải được đặt trong tổng thể các yêu cầu về nâng cao năng lực chuyên môn, chuẩn hóa vị trí việc làm, tăng cường kỹ năng số, đổi mới phương pháp đánh giá công vụ, bảo đảm nguồn lực thực thi, tăng trách nhiệm giải trình và xây dựng văn hóa công vụ phục vụ Nhân dân.

2.2. Những áp lực mới đối với hiệu suất làm việc của công chức cấp xã

Bên cạnh kết quả bước đầu, giai đoạn từ ngày 01/7/2025 đến nay cũng cho thấy nhiều hạn chế và áp lực mới tác động trực tiếp đến hiệu suất làm việc của công chức cấp xã.

Một là, áp lực tăng mạnh về khối lượng, phạm vi và độ phức tạp của công việc. Trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, địa bàn cấp xã sau sắp xếp thường rộng hơn, dân số đông hơn, số lượng hồ sơ và nhu cầu phục vụ đa dạng hơn. Đồng thời, nhiều nhiệm vụ trước đây do cấp huyện thực hiện nay được chuyển xuống cấp xã. Điều này làm cho công chức cấp xã không chỉ xử lý các thủ tục hành chính thông thường mà còn phải tham mưu, giải quyết những lĩnh vực phức tạp hơn như đất đai, xây dựng, quy hoạch, tài nguyên - môi trường, tài chính, chuyển đổi số và an sinh xã hội.

Hai là, tình trạng thiếu công chức chuyên môn ở cấp xã là áp lực rất rõ. Tại Quảng Trị, sau hơn một tháng vận hành mô hình mới, nhiều xã thiếu cán bộ chuyên môn trong các lĩnh vực tài nguyên môi trường, kinh tế - tài chính, khoa học - công nghệ; tỉnh phải tính đến phương án cử cán bộ chuyên môn cấp tỉnh về xã hỗ trợ. Có xã sau ngày 01/7/2025 thiếu tới 14 cán bộ, công chức; nhiều lĩnh vực quan trọng như lâm nghiệp, xây dựng, giao thông, quy hoạch, công nghệ thông tin, y tế không có cán bộ phụ trách. Đây là dẫn chứng trực tiếp cho thấy yêu cầu công việc tăng nhưng nguồn nhân lực chuyên môn chưa đáp ứng tương xứng.

Ba là, năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã chưa đồng đều so với yêu cầu mới. Khi cấp xã được giao thêm nhiều thẩm quyền, công chức phải có kiến thức pháp luật, chuyên môn ngành, kỹ năng hành chính, kỹ năng số và khả năng xử lý tình huống phức tạp. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều công chức cấp xã vốn quen với nhiệm vụ hành chính cơ sở theo mô hình cũ, chưa được đào tạo đầy đủ để tiếp nhận những nhiệm vụ có tính kỹ thuật cao. Điều này có thể dẫn đến tình trạng lúng túng, kéo dài thời gian xử lý hồ sơ hoặc phải xin ý kiến nhiều lần, làm giảm hiệu suất thực tế.

Bốn là, áp lực chuyển đổi số ngày càng lớn nhưng hạ tầng và kỹ năng số chưa đồng đều. Một mặt, mô hình mới đòi hỏi công chức cấp xã phải làm việc trên môi trường điện tử, sử dụng dịch vụ công trực tuyến, cơ sở dữ liệu dân cư, chữ ký số và hệ thống quản lý văn bản. Mặt khác, một số phản ánh cho thấy hạ tầng công nghệ thông tin từ trung ương đến địa phương còn thiếu đồng bộ, gây khó khăn trong liên thông và chưa bảo đảm dịch vụ công toàn trình ở mọi nơi. Do đó, chuyển đổi số vừa là công cụ nâng cao hiệu suất, vừa là áp lực lớn đối với những xã thiếu thiết bị, thiếu nhân lực công nghệ thông tin hoặc người dân còn hạn chế kỹ năng số.

Năm là, quá trình phân cấp, phân quyền làm tăng trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm giải trình của công chức cấp xã. Khi thẩm quyền được chuyển xuống cơ sở, công chức cấp xã phải tham mưu đúng, xử lý đúng và chịu trách nhiệm trực tiếp hơn đối với kết quả công việc. Trong các lĩnh vực nhạy cảm như đất đai, xây dựng, môi trường, hộ tịch, chính sách xã hội, nếu năng lực chuyên môn không vững hoặc quy trình chưa thống nhất, nguy cơ sai sót, chậm trễ, đùn đẩy trách nhiệm có thể gia tăng. Vì vậy, hiệu suất làm việc trong mô hình mới không chỉ là “làm nhanh” mà phải là “làm đúng, làm chắc, làm minh bạch và chịu trách nhiệm”.

Sáu là, áp lực tâm lý và thích ứng tổ chức của đội ngũ công chức cấp xã cũng là vấn đề đáng chú ý. Sắp xếp đơn vị hành chính, thay đổi nơi làm việc, thay đổi chức năng nhiệm vụ, thay đổi lãnh đạo, thay đổi quy trình xử lý công việc và yêu cầu tiếp nhận nhiệm vụ mới đều tác động đến tâm lý công chức. Trong giai đoạn chuyển tiếp, một bộ phận công chức có thể rơi vào trạng thái quá tải, lo lắng về vị trí việc làm, hoặc chưa kịp thích nghi với phương thức vận hành mới. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng và thái độ phục vụ.

Bảy là, vẫn tồn tại nguy cơ chênh lệch hiệu suất giữa các địa phương. Những xã ở đô thị, đồng bằng, có hạ tầng số tốt, đội ngũ công chức trẻ, được đào tạo bài bản có khả năng thích ứng nhanh hơn. Ngược lại, xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, địa bàn rộng, dân cư phân tán, thiếu công chức chuyên môn và hạ tầng công nghệ yếu sẽ chịu áp lực lớn hơn. Vì vậy, nếu không có cơ chế hỗ trợ phân hóa theo đặc thù địa bàn, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp có thể tạo ra khoảng cách mới về chất lượng phục vụ giữa các xã.

Từ những phân tích trên có thể khẳng định: giai đoạn từ ngày 01/7/2025 đến nay là giai đoạn vừa vận hành, vừa điều chỉnh, vừa hoàn thiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Hiệu suất làm việc của công chức cấp xã đã có những chuyển biến tích cực nhờ giảm tầng nấc trung gian, tăng phân quyền và thúc đẩy chuyển đổi số; tuy nhiên cũng chịu áp lực lớn từ khối lượng công việc tăng, thiếu nhân lực chuyên môn, yêu cầu năng lực mới, hạ tầng số chưa đồng bộ và trách nhiệm giải trình cao hơn. Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu suất làm việc của công chức cấp xã trong giai đoạn tiếp theo.

2.3. Những kết quả tích cực bước đầu về hiệu suất làm việc của công chức cấp xã

Từ ngày 01/7/2025 đến nay, việc vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đã tạo ra một số chuyển biến bước đầu đối với hiệu suất làm việc của công chức cấp xã. Những kết quả này chưa thể coi là ổn định lâu dài, nhưng có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn chuyển tiếp.

Trước hết, hoạt động của chính quyền cấp xã về cơ bản được duy trì thông suốt, không để xảy ra gián đoạn lớn trong giải quyết thủ tục hành chính cho người dân và doanh nghiệp. Ngay trong những ngày đầu vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, các trung tâm phục vụ hành chính công cấp tỉnh và cấp xã vẫn duy trì hoạt động liên tục. Ngay trong ngày đầu tiên chính quyền hai cấp đi vào hoạt động 01/7/2025, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt 57%, hồ sơ nộp trực tiếp chiếm 43%. Những số liệu này cho thấy hệ thống hành chính cơ sở đã bước đầu thích ứng với phương thức vận hành mới và yêu cầu chuyển đổi số trong hoạt động công vụ.

Thứ hai, mô hình 2 cấp góp phần rút ngắn tầng nấc trung gian, tăng tính chủ động cho cấp xã. Khi không còn cấp huyện, nhiều công việc được chuyển trực tiếp về cấp xã xử lý, làm cho công chức cấp xã có điều kiện tiếp cận nhanh hơn với yêu cầu thực tiễn của người dân. Đây là tiền đề để nâng cao hiệu suất làm việc theo hướng “gần dân, sát dân, giải quyết việc tại cơ sở”, thay vì phụ thuộc nhiều vào quy trình chuyển cấp như trước đây.

Thứ ba, phạm vi tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính được mở rộng theo hướng thuận lợi hơn cho người dân. Theo quy định mới, Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã được hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ để thực hiện tiếp nhận thủ tục hành chính không phụ thuộc vào địa giới hành chính trong phạm vi cấp tỉnh, đồng thời tham mưu nhiệm vụ xây dựng chính quyền điện tử và chuyển đổi số cho UBND cấp xã. Đây là điểm mới quan trọng, vì hiệu suất làm việc của công chức cấp xã không chỉ được đo bằng số lượng hồ sơ xử lý mà còn bằng khả năng tạo thuận lợi, giảm chi phí thời gian và chi phí đi lại cho người dân.

Thứ tư, chuyển đổi số được thúc đẩy mạnh hơn ở cấp xã. Việc chỉ còn một Cổng Dịch vụ công quốc gia thay vì 63 cổng địa phương như trước giúp tạo nền tảng thống nhất để người dân nộp hồ sơ trực tuyến từ bất cứ đâu, qua máy tính hoặc điện thoại có kết nối Internet. Đối với công chức cấp xã, đây là điều kiện để giảm thao tác thủ công, tăng tính minh bạch trong xử lý hồ sơ, hạn chế tình trạng thất lạc, chậm trễ và nâng cao khả năng theo dõi tiến độ công việc.

Thứ năm, việc sắp xếp bộ máy bước đầu tạo động lực sàng lọc, bố trí lại đội ngũ theo yêu cầu công việc. Một số địa phương đã rà soát, kiện toàn tổ chức, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền; các chế độ, chính sách bước đầu được thực hiện đồng bộ, tạo nền tảng pháp lý và thực tiễn cho vận hành mô hình mới. Về mặt quản trị nhân sự công, đây là cơ hội để chuyển từ tư duy “bố trí người theo biên chế sẵn có” sang “bố trí người theo vị trí việc làm và năng lực thực thi”.

Thứ sáu, mô hình mới làm nổi bật hơn vai trò của những công chức có năng lực, tinh thần trách nhiệm và khả năng thích ứng. Khi địa bàn quản lý rộng hơn, khối lượng công việc lớn hơn và thẩm quyền được phân cấp mạnh hơn, những công chức có năng lực chuyên môn, kỹ năng số, khả năng phối hợp và tinh thần phục vụ Nhân dân sẽ có điều kiện phát huy rõ hơn vai trò và năng lực thực thi công vụ. Đồng thời, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp cũng tạo ra môi trường cạnh tranh và sàng lọc tự nhiên, qua đó thúc đẩy đội ngũ công chức cấp xã nâng cao trình độ chuyên môn, ý thức trách nhiệm và khả năng thích ứng với yêu cầu quản trị địa phương hiện đại.

Như vậy, kết quả bước đầu nổi bật nhất sau ngày 01/7/2025 là: bộ máy cấp xã không bị đứt gãy trong vận hành; thủ tục hành chính cơ bản được duy trì thông suốt; chuyển đổi số được thúc đẩy; tính chủ động của cấp xã tăng lên; và yêu cầu đánh giá công chức theo năng lực, kết quả thực thi ngày càng rõ hơn. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao hiệu suất làm việc của công chức cấp xã trong giai đoạn tiếp theo.

2.4. Nguyên nhân của những hạn chế

Những hạn chế và áp lực đối với hiệu suất làm việc của công chức cấp xã trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Đây không chỉ là vấn đề của riêng đội ngũ công chức cấp xã mà còn là hệ quả của quá trình chuyển đổi mô hình quản trị địa phương với quy mô lớn, phạm vi rộng và yêu cầu cải cách sâu sắc.

Nguyên nhân quan trọng mang tính khách quan là mô hình chính quyền địa phương 2 cấp là mô hình hoàn toàn mới ở Việt Nam, tạo ra sự thay đổi căn bản về tổ chức bộ máy, cơ chế vận hành và phân định thẩm quyền quản lý nhà nước ở địa phương. Việc kết thúc hoạt động của cấp huyện từ ngày 01/7/2025 dẫn đến sự thay đổi đột ngột trong cấu trúc quản trị hành chính, làm cho cấp xã phải tiếp nhận nhiều nhiệm vụ mới trong thời gian ngắn. Điều này làm cho nhiều công chức cấp xã chưa kịp thích ứng với yêu cầu công việc mới cả về chuyên môn lẫn phương thức thực thi công vụ.

Tiếp đó, việc tăng nhanh khối lượng và phạm vi công việc trong khi nguồn nhân lực chưa được chuẩn bị tương xứng là nguyên nhân trực tiếp làm giảm hiệu suất làm việc của công chức cấp xã. Sau khi thực hiện mô hình 2 cấp, công chức cấp xã phải đảm nhiệm thêm nhiều lĩnh vực chuyên môn trước đây thuộc cấp huyện như đất đai, xây dựng, quy hoạch, môi trường, tài chính, chuyển đổi số và quản lý dân cư. Tuy nhiên, quá trình đào tạo, bồi dưỡng và chuẩn bị nhân sự cho việc chuyển giao nhiệm vụ chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn. Thực tế tại nhiều địa phương cho thấy tình trạng thiếu công chức chuyên môn đang diễn ra khá phổ biến, nhất là ở các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ thông tin, xây dựng và tài nguyên môi trường.

Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã chưa đồng đều là nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc trong bối cảnh mới. Mặc dù trình độ đào tạo của công chức cấp xã đã được nâng lên đáng kể trong những năm gần đây, song năng lực thực thi công vụ thực tế giữa các địa phương vẫn còn khoảng cách lớn. Một bộ phận công chức còn hạn chế về kỹ năng tham mưu, kỹ năng xử lý tình huống, kỹ năng giao tiếp hành chính và đặc biệt là kỹ năng số. Trong mô hình quản trị địa phương mới, công chức cấp xã không chỉ cần nắm vững chuyên môn mà còn phải có năng lực quản trị công hiện đại, khả năng phối hợp liên ngành và thích ứng nhanh với môi trường làm việc số hóa. Đây là yêu cầu mà không phải địa phương nào cũng đáp ứng được ngay trong giai đoạn đầu triển khai mô hình mới.

Quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính đã tác động trực tiếp đến tâm lý, động lực và trạng thái làm việc của công chức cấp xã. Việc sáp nhập xã, thay đổi vị trí việc làm, thay đổi lãnh đạo quản lý, điều chỉnh chức năng nhiệm vụ và bố trí lại nhân sự khiến nhiều công chức phải thích nghi trong thời gian ngắn. Một bộ phận công chức có tâm lý lo lắng về vị trí việc làm, thu nhập, cơ hội thăng tiến hoặc áp lực công việc tăng lên sau sắp xếp. Trong điều kiện đó, hiệu suất làm việc khó tránh khỏi bị ảnh hưởng nhất định, đặc biệt trong giai đoạn chuyển tiếp của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Bên cạnh đó, hạ tầng kỹ thuật và điều kiện bảo đảm thực thi công vụ ở cấp xã còn nhiều hạn chế. Mặc dù chuyển đổi số được xác định là động lực quan trọng để nâng cao hiệu suất làm việc, song trên thực tế, hạ tầng công nghệ thông tin ở nhiều địa phương chưa đáp ứng yêu cầu. Một số xã còn thiếu trang thiết bị công nghệ, hệ thống đường truyền chưa ổn định, phần mềm quản lý chưa đồng bộ hoặc chưa liên thông dữ liệu hiệu quả. Điều này gây khó khăn cho công chức trong giải quyết hồ sơ trực tuyến, khai thác cơ sở dữ liệu dùng chung và xử lý công việc trên môi trường điện tử. Theo phản ánh của nhiều địa phương, việc vận hành hệ thống dịch vụ công trực tuyến trong giai đoạn đầu còn phát sinh lỗi kỹ thuật, gây áp lực lớn đối với công chức cấp xã trong khi vẫn phải bảo đảm giải quyết công việc thông suốt cho người dân.

Hơn nữa, cơ chế phân cấp, phân quyền tuy được mở rộng nhưng chưa phải lúc nào cũng đi kèm đầy đủ các điều kiện bảo đảm thực hiện. Trong nhiều trường hợp, cấp xã được giao thêm nhiệm vụ nhưng chưa được tăng tương ứng về biên chế, ngân sách, cơ sở vật chất và nguồn lực chuyên môn. Điều này dẫn đến tình trạng “quyền nhiều nhưng nguồn lực chưa đủ”, làm cho công chức cấp xã rơi vào trạng thái quá tải, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ và chất lượng xử lý công việc.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã cũng chưa theo kịp yêu cầu của mô hình quản trị mới. Nội dung đào tạo ở nhiều nơi vẫn nặng về lý thuyết, chưa chú trọng đúng mức đến kỹ năng thực hành, xử lý tình huống thực tiễn, kỹ năng số và quản trị công hiện đại. Trong khi đó, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đòi hỏi công chức cấp xã phải có khả năng xử lý nhiều lĩnh vực chuyên môn đa dạng hơn trước, đặc biệt là khả năng sử dụng công nghệ số và vận hành các nền tảng quản trị điện tử.

Cơ chế đánh giá hiệu suất làm việc của công chức cấp xã vẫn còn những bất cập nhất định. Ở nhiều nơi, việc đánh giá công chức vẫn chủ yếu dựa trên quy trình hành chính, mức độ hoàn thành nhiệm vụ chung hoặc đánh giá định tính, chưa gắn chặt với kết quả đầu ra, mức độ hài lòng của người dân và hiệu quả thực tế của công việc. Trong điều kiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp yêu cầu cao hơn về trách nhiệm giải trình và chất lượng phục vụ, cơ chế đánh giá chưa đổi mới sẽ khó tạo động lực mạnh mẽ cho công chức nâng cao hiệu suất làm việc.

Ngoài ra, sự chênh lệch về điều kiện phát triển kinh tế - xã hội giữa các địa phương cũng là nguyên nhân làm cho hiệu suất làm việc của công chức cấp xã không đồng đều. Các xã ở đô thị, đồng bằng, có điều kiện hạ tầng tốt, nguồn nhân lực chất lượng cao và mức độ chuyển đổi số cao thường có khả năng thích ứng nhanh hơn. Ngược lại, các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thường gặp nhiều khó khăn hơn về nhân lực, cơ sở vật chất, trình độ dân trí và khả năng tiếp cận công nghệ. Điều này tác động trực tiếp đến khả năng thực thi công vụ và chất lượng phục vụ người dân của công chức cấp xã.

Có thể thấy rằng, những hạn chế đối với hiệu suất làm việc của công chức cấp xã trong giai đoạn từ ngày 01/7/2025 đến nay là hệ quả tổng hợp của nhiều nguyên nhân đan xen, trong đó nổi bật là tác động của quá trình chuyển đổi mô hình quản trị địa phương, áp lực tăng khối lượng công việc, hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực và điều kiện bảo đảm thực thi công vụ. Vì vậy, để nâng cao hiệu suất làm việc của công chức cấp xã trong điều kiện chính quyền địa phương 2 cấp cần có các giải pháp đồng bộ cả về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, chuyển đổi số và cơ chế quản lý công vụ phù hợp với yêu cầu phát triển mới của đất nước.

3. Giải pháp nâng cao hiệu suất làm việc của công chức cấp xã theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

Trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp từ ngày 01/7/2025, nâng cao hiệu suất làm việc của công chức cấp xã không chỉ là yêu cầu của cải cách hành chính mà còn là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới quản trị quốc gia và xây dựng nền hành chính hiện đại, phục vụ Nhân dân. Việc kết thúc hoạt động của cấp huyện đã làm thay đổi căn bản vị trí, vai trò, chức năng và khối lượng công việc của cấp xã. Công chức cấp xã hiện nay không chỉ thực hiện các nhiệm vụ hành chính cơ sở truyền thống mà còn trực tiếp đảm nhận nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước trước đây thuộc thẩm quyền cấp huyện. Điều này đòi hỏi phải có hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ, khả năng thích ứng, tinh thần trách nhiệm và hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức cấp xã theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế quản lý công chức cấp xã phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Cần rà soát, sửa đổi và bổ sung các quy định liên quan đến vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh, cơ chế tuyển dụng, sử dụng và đánh giá công chức theo hướng hiện đại, linh hoạt và gắn với yêu cầu thực tiễn. Việc quản lý công chức cần chuyển mạnh từ quản lý theo biên chế sang quản lý theo vị trí việc làm và hiệu quả thực thi công vụ. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực; xác định rõ trách nhiệm cá nhân trong thực thi công vụ nhằm khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm và tâm lý sợ sai trong xử lý công việc.

Hai là, đổi mới công tác tuyển dụng, sử dụng và đánh giá công chức cấp xã theo hướng thực chất, minh bạch và lấy hiệu quả công việc làm trung tâm. Công tác tuyển dụng cần bảo đảm cạnh tranh công khai, lựa chọn đúng người có năng lực chuyên môn, kỹ năng số, tư duy đổi mới và khả năng thích ứng với môi trường làm việc hiện đại. Việc sử dụng công chức phải phù hợp với chuyên môn đào tạo, vị trí việc làm và yêu cầu thực tiễn của địa phương; đồng thời tăng cường luân chuyển để khắc phục tình trạng thiếu hụt nhân lực chuyên môn cục bộ. Đặc biệt, cần đổi mới mạnh mẽ cơ chế đánh giá công chức theo hướng lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ, mức độ hài lòng của người dân và hiệu quả đầu ra làm tiêu chí chủ yếu, bảo đảm công khai, minh bạch và gắn với trách nhiệm của người đứng đầu.

Ba là, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã đáp ứng yêu cầu quản trị địa phương hiện đại. Nội dung đào tạo cần gắn chặt với vị trí việc làm và yêu cầu thực tiễn sau khi cấp xã tiếp nhận thêm nhiều nhiệm vụ từ cấp huyện. Cần chú trọng bồi dưỡng kỹ năng tham mưu, kỹ năng xử lý tình huống hành chính, kỹ năng giao tiếp với công dân, kỹ năng phối hợp liên ngành và kỹ năng làm việc trên môi trường điện tử. Trong bối cảnh chuyển đổi số, cần tăng cường đào tạo kỹ năng số, quản lý dữ liệu, sử dụng nền tảng số và vận hành hệ thống hành chính điện tử. Đồng thời, cần chú trọng giáo dục đạo đức công vụ, văn hóa công sở và tinh thần phục vụ Nhân dân; đổi mới phương thức đào tạo theo hướng kết hợp giữa trực tiếp và trực tuyến, xây dựng mô hình học tập suốt đời cho công chức cấp xã.

Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động công vụ ở cấp xã nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng phục vụ và tính minh bạch của nền hành chính cơ sở. Nhà nước cần ưu tiên đầu tư đồng bộ hạ tầng số, cơ sở dữ liệu, trang thiết bị công nghệ và nền tảng điều hành điện tử cho cấp xã, đặc biệt là các địa bàn khó khăn. Đồng thời, cần đẩy mạnh số hóa hồ sơ, tài liệu và quy trình xử lý công việc; tăng cường sử dụng chữ ký số, hồ sơ điện tử và dịch vụ công trực tuyến. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các nền tảng quản trị thông minh cần được triển khai phù hợp nhằm hỗ trợ công chức xử lý công việc nhanh hơn, chính xác hơn và giảm áp lực trong thực thi công vụ.

Năm là, hoàn thiện chính sách tạo động lực làm việc cho công chức cấp xã. Trong điều kiện khối lượng công việc và trách nhiệm công vụ ngày càng lớn, cần tiếp tục thực hiện hiệu quả cải cách chính sách tiền lương theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW nhằm bảo đảm tiền lương thực sự là nguồn thu nhập chính của công chức. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế khuyến khích công chức đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; thực hiện khen thưởng kịp thời, công bằng và gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ. Bên cạnh đó, cần cải thiện điều kiện làm việc, xây dựng môi trường công sở dân chủ, chuyên nghiệp và nhân văn nhằm tạo động lực để công chức phát huy năng lực và nâng cao hiệu suất làm việc.

Sáu là, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính và xây dựng văn hóa công vụ trong đội ngũ công chức cấp xã. Cần tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực thi công vụ; xử lý nghiêm các hành vi né tránh trách nhiệm, gây phiền hà cho người dân, chậm trễ xử lý công việc hoặc vi phạm đạo đức công vụ. Đồng thời, cần xây dựng văn hóa công vụ theo hướng chuyên nghiệp, trách nhiệm, minh bạch, gần dân, trọng dân và tận tụy phục vụ Nhân dân. Trong điều kiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, công chức cấp xã không chỉ là người thực thi công vụ mà còn là lực lượng trực tiếp tạo dựng niềm tin của người dân đối với bộ máy hành chính nhà nước. Vì vậy, cần phát huy vai trò giám sát của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội nhằm nâng cao trách nhiệm giải trình, tính công khai, minh bạch và hiệu quả hoạt động công vụ ở cấp xã./.

-----------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Chính trị (2021), Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.

2. Chính phủ (2021), Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030.

3. Chính phủ (2022), Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022–2025, tầm nhìn đến năm 2030.

4. Cổng Thông tin điện tử Chính sách Cuộc sống - Thông tấn xã Việt Nam (2025), truy cập tại: https://chinhsachcuocsong.vnanet.vn/, truy cập ngày 03/7/2025.

5. Cổng Thông tin điện tử Chính sách Cuộc sống - Thông tấn xã Việt Nam (2025), truy cập tại: https://chinhsachcuocsong.vnanet.vn/, truy cập ngày 06/8/2025.

6. Cổng Thông tin điện tử Chính sách Cuộc sống - Thông tấn xã Việt Nam (2025), truy cập tại: https://chinhsachcuocsong.vnanet.vn/, truy cập ngày 15/9/2025.

7. Cổng Thông tin điện tử Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2025), truy cập tại: https://mattran.org.vn/giam-sat-phan-bien-xa-hoi, truy cập ngày 07/9/2025.

8. Cổng Thông tin điện tử Xây dựng chính sách, pháp luật (2025), “Toàn văn Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng”, truy cập tại: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn, truy cập ngày 14/5/2025.

9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

10. Quốc hội (2025), Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi).

11. Báo điện tử VOV (2025), truy cập tại: https://vov.vn/chinh-tri, truy cập ngày 01/7/2025.

TS Nguyễn Đức Thắng, Học viện Hành chính và Quản trị công
Nguồn: https://tcnnld.vn/news/detail/72156/Nang-cao-hieu-suat-lam-viec-cua-cong-chuc-cap-xa-theo-tinh-than-Nghi-quyet-Dai-hoi-XIV-cua-Dang.html