Chính trị

Kỳ họp thứ 8 HĐND tỉnh khoá XIX, nhiệm kỳ 2021-2026: Sôi nổi thảo luận tại hội trường

10/12/2025 11:00

(BNP) – Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 8, sáng 10/12, các đại biểu HĐND tỉnh tiến hành thảo luận tại hội trường với nhiều ý kiến tâm huyết, đi thẳng vào những vấn đề lớn trong phát triển KT-XH, đổi mới tổ chức bộ máy, cải cách hành chính, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng dịch vụ công.

Chủ toạ kỳ họp.

Huy động tối đa nguồn lực, phát triển hạ tầng đồng bộ đưa Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương

Mở đầu phiên thảo luận tại hội trường, đại biểu Vũ Thị Phương Thảo, Phó Giám đốc Sở Tài chính, Tổ đại biểu số 1 HĐND tỉnh, nhấn mạnh yêu cầu cấp bách trong bối cảnh Bắc Ninh bước vào giai đoạn phát triển mới sau hợp nhất: tập trung huy động tối đa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư, tạo nền tảng để phấn đấu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030 và đến năm 2045 là thành phố xanh, văn minh, mang đậm bản sắc Kinh Bắc.

Đại biểu cho biết, nhu cầu về vốn đầu tư cho giai đoạn 2026 – 2030 rất lớn. Tỉnh cần tối thiểu 50 nghìn tỷ đồng để hoàn thành các dự án chuyển tiếp như Cầu Kênh Vàng, Vành đai 4, đường tỉnh 293; khoảng 100 nghìn tỷ đồng để triển khai hơn 330 dự án mới, gồm nhiều công trình động lực như Cầu Vân Hà, Vành đai 5, đường kết nối Sân bay Gia Bình – Hà Nội, đường tỉnh 285B; cùng gần 40 nghìn tỷ đồng cho các dự án cấp xã phục vụ xây dựng nông thôn mới, nâng cấp đô thị. Bên cạnh đó, Bắc Ninh cần phối hợp chặt chẽ để triển khai các dự án quốc gia như Cảng hàng không Gia Bình, đường sắt tốc độ cao Hà Nội – Quảng Ninh…

Đại biểu Vũ Thị Phương Thảo, Phó Giám đốc Sở Tài chính phát biểu tham luận.

Để đáp ứng khối lượng đầu tư rất lớn này, đại biểu Thảo đề xuất một số giải pháp trọng tâm: Thực hiện hiệu quả mục tiêu tăng trưởng GRDP 12,5% – 13% trong năm 2026, tạo nguồn lực bền vững cho phát triển. Đẩy nhanh lập và hoàn thiện Quy hoạch tỉnh, Quy hoạch chung đô thị Bắc Ninh đến năm 2050; xây dựng lộ trình rõ ràng để hoàn thành tiêu chí đô thị loại I và thành phố trực thuộc Trung ương. Nâng cao trách nhiệm người đứng đầu trong triển khai dự án đầu tư công; tăng cường giám sát tiến độ và chất lượng công trình. Tiếp tục tháo gỡ vướng mắc trong bồi thường, giải phóng mặt bằng, rút ngắn quy trình, bảo đảm quyền lợi người dân. Mở rộng huy động nguồn vốn, đặc biệt từ Trung ương, các tập đoàn lớn, doanh nghiệp FDI; phát triển mạnh mô hình PPP để đầu tư các dự án hạ tầng quy mô lớn.

Phạm Thuỳ Trang, Phó Trưởng ban Pháp chế HĐND tỉnh phát biểu tham luận.

Hoàn thiện tổ chức bộ máy và giải quyết thủ tục hành chính sau sắp xếp đơn vị hành chính

Tham luận nội dung “Việc thực hiện các quy định của pháp luật về tổ chức bộ máy và giải quyết TTHC sau sắp xếp đơn vị hành chính trên địa bàn tỉnh - Thực trạng và giải pháp trong thời gian tới”, đại biểu Phạm Thuỳ Trang, Phó Trưởng ban Pháp chế HĐND tỉnh, đánh giá việc sắp xếp lại đơn vị hành chính đã tạo chuyển biến tích cực, bộ máy tinh gọn hơn và hiệu lực, hiệu quả được nâng lên. Tỉnh đã hoàn thành sắp xếp 15 sở, 99 xã/phường và 1.362 đơn vị sự nghiệp; giải quyết chế độ cho 2.285 cán bộ, tiết kiệm ngân sách khoảng 276 tỷ đồng/năm. Công tác tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) duy trì thông suốt, tỷ lệ đúng hạn trên 99%.

Bên cạnh kết quả đạt được, đại biểu nêu rõ: một số địa phương còn lúng túng khi thực hiện nhiệm vụ mới; thiếu biên chế ở các lĩnh vực trọng yếu (xây dựng, công nghệ thông tin, kế toán, y tế…); hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ; kỹ năng số của một bộ phận cán bộ còn hạn chế.

Đại biểu đề xuất: Rà soát, bố trí biên chế phù hợp với khối lượng công việc; Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; Đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn sử dụng dịch vụ công trực tuyến; Đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng số cho cấp xã; Sở Nội vụ và Văn phòng UBND tỉnh tiếp tục đóng vai trò nòng cốt trong kiểm tra, hướng dẫn, nâng cao chất lượng giải quyết TTHC. 

Đại biểu Ngô Sỹ Long, Phó Bí thư Thường trực phường Đa Mai phát biểu tham luận.

Tập trung vận hành ổn định chính quyền địa phương 2 cấp 

Tham luận nội dung “Thực trạng vận hành của chính quyền địa phương 2 cấp trong thời gian qua, một số đề xuất, kiến nghị”, đại biểu Ngô Sỹ Long, Phó Bí thư Thường trực phường Đa Mai, cho biết sau 5 tháng vận hành mô hình chính quyền 2 cấp, hoạt động của bộ máy cơ bản ổn định, nhận được sự đồng thuận cao. Cấp xã được tăng thẩm quyền, khối lượng công việc lớn hơn và ngày càng thể hiện rõ vai trò “cấp hoạch định – tổ chức thực hiện”.

Tuy nhiên, mô hình mới vẫn đối mặt với nhiều khó khăn: Thể chế, văn bản hướng dẫn dưới luật chưa đồng bộ, nhiều nội dung còn thiết kế theo mô hình 3 cấp, gây lúng túng khi thực hiện; Khung biên chế và chế độ đãi ngộ cho cán bộ xã chưa tương xứng; Đội ngũ không đồng đều, một số vị trí thừa – thiếu cục bộ; Quản lý hành chính, hạ tầng công ích có nơi còn chồng chéo (quản lý đèn đường, cao độ nền đường, quy hoạch…); Một số trụ sở làm việc còn khó khăn.

Đại biểu kiến nghị: Trung ương ban hành đồng bộ văn bản quy phạm phù hợp mô hình 2 cấp, điều chỉnh biên chế và chính sách tiền lương đặc thù cho cán bộ xã; Tỉnh sớm ban hành Đề án vị trí việc làm; đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin; hoàn thiện quy chế hoạt động Trung tâm cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cấp xã; tăng cường quản lý dịch vụ công ích theo khu vực. 

Đại biểu Lê Xuân Me, phóng viên Phòng Thời sự Báo và Phát thanh và Truyền hình phát biểu tham luận.

Thúc đẩy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Tại hội trường, đại biểu Lê Xuân Me, phóng viên Phòng Thời sự Báo và Phát thanh - Truyền hình tham luận với chủ đề: "Tiếp tục có giải pháp đột phá trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số". Theo đó, đại biểu khẳng định năm 2025, khoa học – công nghệ và chuyển đổi số tiếp tục là điểm sáng của tỉnh. Bắc Ninh đứng thứ 6/34 địa phương về Chỉ số đổi mới sáng tạo, dẫn đầu cả nước về một số tiêu chí chuyển đổi số chính quyền 2 cấp. Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo được thúc đẩy mạnh, nhiều nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh đạt hiệu quả thiết thực; hạ tầng số tiếp tục được nâng cấp.

Tuy nhiên, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa trở thành động lực tăng trưởng chủ đạo; ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp và chế biến sâu còn hạn chế; triển khai một số dự án CNTT chưa đáp ứng yêu cầu.

Đại biểu đề xuất: Hoàn thiện cơ chế, chính sách tháo gỡ điểm nghẽn trong quản lý và đầu tư KH&CN; Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ cao, đổi mới quy trình; Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý, sản xuất và dịch vụ công; Xây dựng hệ sinh thái liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong tỉnh; Phát triển nông nghiệp số, kinh tế nông nghiệp gắn chuỗi giá trị và chế biến sâu, tránh “được mùa – mất giá”.

Đại biểu nhấn mạnh yêu cầu đặt khoa học – công nghệ và chuyển đổi số ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển, đúng tinh thần Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị. 

Đại biểu Lưu Tiến Chung, Tổng Giám đốc Tổng Công ty May Bắc Giang LGG phát biểu tham luận.

 Đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong doanh nghiệp

Tham luận về "Giải pháp thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong doanh nghiệp", đại biểu Lưu Tiến Chung, Tổng Giám đốc Tổng Công ty May Bắc Giang LGG, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn từ doanh nghiệp: từ mô hình gia công truyền thống, LGG đã chuyển mạnh sang ODM, FOB, đầu tư thiết kế 3D, R&D, máy móc tự động hóa, triển khai ERP, kho thông minh, tiến tới nhà máy thông minh.

Sau 6 năm chuyển đổi mạnh mẽ, doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, uy tín với khách hàng quốc tế; Mở rộng thị trường, tăng đơn hàng và cải thiện thu nhập người lao động; Từng bước nâng tầm vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Đại biểu đề nghị tỉnh: Xây dựng chiến lược để Bắc Ninh trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu; Đẩy mạnh hợp tác “Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp” để phát triển nguồn nhân lực công nghệ; Khuyến khích doanh nghiệp FDI như Samsung, Foxconn, Luxshare đóng góp mạnh hơn vào R&D và đào tạo nhân lực; Phát triển văn hóa đổi mới sáng tạo trong toàn hệ thống chính trị và doanh nghiệp.

Đại biểu Hoàng Thị Ngân, Phó Bí thư Thường trực Đảng uỷ xã Yên Định phát biểu tham luận.

Giải pháp xây dựng trường chuẩn quốc gia tại các xã vùng núi, vùng có điều kiện khó khăn

Tham luận về "Thực trạng việc xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia tại các xã vùng núi, vùng có có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn trên địa bàn tỉnh; giải pháp trong thời gian tiếp theo", đại biểu Hoàng Thị Ngân, Phó Bí thư Thường trực Đảng uỷ xã Yên Định cho biết, tại 8 xã vùng núi, vùng khó khăn của huyện Sơn Động, hiện có 55/57 trường đạt chuẩn quốc gia (96,5%), trong đó 24,6% đạt mức độ 2. Tổng kinh phí đầu tư giai đoạn 2021-2025 đạt hơn 407 tỷ đồng.

Dù đạt tỷ lệ cao, nhưng còn 02 trường chưa đạt chuẩn; 04 trường quá hạn chuẩn; một số trường thiếu đồng bộ cơ sở vật chất, quỹ đất chật hẹp; sĩ số vượt chuẩn; đội ngũ giáo viên chưa đồng đều; nhận thức cộng đồng về xây dựng trường chuẩn còn hạn chế.

Đại biểu đề nghị: UBND tỉnh ưu tiên nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, hỗ trợ kinh phí cho các trường khó khăn; Quy hoạch quỹ đất cho giáo dục; Sở Giáo dục và Đào tạo xây dựng lộ trình chuẩn hoá trường học giai đoạn 2026 - 2030; Hướng dẫn xử lý các trường hết hạn chuẩn; Lồng ghép các chương trình, nguồn vốn để kiên cố hóa trường lớp học.

Đại biểu Lê Xuân Thắng, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Tân Sơn phát biểu tham luận.

Lộ trình xử lý điểm trường lẻ và bảo đảm đồng thuận Nhân dân sau sáp nhập

Với chủ đề "Lộ trình xử lý các điểm trường lẻ và bảo đảm đồng thuận Nhân dân trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh sau sáp nhập" đại biểu Lê Xuân Thắng, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Tân Sơn, nêu rõ: Sau sáp nhập đơn vị hành chính, hệ thống trường học của tỉnh đứng trước yêu cầu phải được tổ chức lại theo hướng tinh gọn, hiện đại, bảo đảm chất lượng dạy và học.

Hiện toàn tỉnh có 199 điểm trường lẻ (chiếm 32,6%), trong đó 66,8% tập trung ở bậc mầm non và tiểu học; nhiều điểm lẻ chỉ có 10–14 học sinh/lớp, cơ sở vật chất thiếu đồng bộ, không đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục mới. Chi phí vận hành điểm lẻ cao hơn khoảng 1,8 lần so với mô hình lớp tập trung. Riêng xã Tân Sơn có 12 điểm trường lẻ.

Qua thí điểm dồn dịch giai đoạn 2021–2024 tại một số huyện, toàn tỉnh đã giảm 42 điểm lẻ, nâng sĩ số bình quân lên 25–30 học sinh/lớp, chất lượng học tập cải thiện, đồng thời tiết kiệm 22–28 tỷ đồng/năm.

Tuy nhiên, đại biểu chỉ rõ một số khó khăn như: phụ huynh lo ngại quãng đường đến trường xa hơn; cơ sở vật chất tại điểm chính chưa đáp ứng yêu cầu tiếp nhận; truyền thông ở cơ sở đôi khi tập trung vào “tiết kiệm chi phí” dễ gây băn khoăn trong Nhân dân.

Đại biểu đề xuất lộ trình xử lý điểm trường lẻ theo 3 giai đoạn: năm 2025 rà soát, tham vấn cộng đồng, xây dựng cơ sở dữ liệu số về mạng lưới trường; tổ chức đối thoại, chuẩn bị phương án đưa đón học sinh an toàn. Giai đoạn 2026-2027, đầu tư bếp ăn một chiều, nhà vệ sinh đạt chuẩn, khu bán trú, thư viện; mỗi năm dồn dịch 40–50 điểm lẻ kèm đánh giá độc lập. Giai đoạn 2028-2029, chuyển đổi công năng điểm lẻ thành nhà văn hóa, thư viện xanh, không gian cộng đồng để bảo đảm người dân không cảm thấy thiệt thòi.

Đại biểu Lương Minh Thành, Tổ đại biểu số 10 phát biểu tham luận.

Nâng cao chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực y tế cơ sở khi sắp xếp lại Trạm Y tế xã

Tham luận với chủ đề "Giải pháp nâng cao chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực tại tuyến y tế cơ sở khi tổ chức, sắp xếp lại Trạm Y tế cấp xã", đại biểu Lương Minh Thành, Tổ đại biểu số 10, nhấn mạnh: Thông tư 43/2025/TT-BYT quy định chức năng, nhiệm vụ của Trạm Y tế xã theo mô hình chính quyền 2 cấp, yêu cầu sắp xếp lại hệ thống y tế cơ sở một cách bài bản, khoa học. Trong đó, nguồn nhân lực là yếu tố quyết định hiệu quả vận hành của mô hình mới.

Theo đại biểu, Trạm Y tế phải đảm nhiệm tới 22 nhóm nhiệm vụ từ phòng bệnh, khám chữa bệnh, chăm sóc bà mẹ – trẻ em, dân số, an toàn thực phẩm, quản lý thuốc – thiết bị y tế, hồ sơ sức khỏe điện tử, cho tới hỗ trợ ứng phó thiên tai và triển khai gói dịch vụ y tế cơ bản. Điều này đòi hỏi đội ngũ viên chức không chỉ đủ về số lượng mà còn đúng chuyên môn, có trình độ chuyên sâu cần thiết.

Đại biểu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm: Xây dựng đề án vị trí việc làm cho Trạm Y tế cấp xã, xác định rõ số lượng – cơ cấu chuyên môn cho từng vị trí để làm căn cứ tuyển dụng, điều động, bố trí nhân lực. Sắp xếp nhân lực ngay từ đầu, luân chuyển hợp lý giữa Trạm Y tế và Trung tâm Y tế tuyến trên, bảo đảm phù hợp chuyên môn và điều kiện đi lại. Đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm, kết hợp lý thuyết – thực hành; có sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo và cơ sở thực hành để chuẩn hóa năng lực viên chức. Ban hành chính sách thu hút và giữ chân nhân lực y tế cơ sở, tránh tình trạng chuyển dịch sang khu vực tư nhân; tạo động lực để y tế cơ sở vận hành ổn định, chất lượng.

Các ý kiến thảo luận tại hội trường đã phân tích sâu sắc thực trạng, chỉ rõ hạn chế và đề xuất giải pháp khả thi trong các lĩnh vực then chốt: tăng trưởng kinh tế, tổ chức bộ máy, giải quyết TTHC, đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực, giáo dục vùng khó và đặc biệt là sắp xếp mạng lưới trường học – trạm y tế theo mô hình mới. Trên cơ sở các ý kiến giúp HĐND tỉnh xem xét, ban hành nghị quyết, góp phần xây dựng nền hành chính hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; thúc đẩy phát triển KT-XH bền vững trong năm 2026 và những năm tiếp theo.

Diệu Hoa - Dương Thuỷ