(BNP) – Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 05/2026/TT-BGDĐT quy định chế độ làm việc đối với nhà giáo giáo dục nghề nghiệp, áp dụng đối với giảng viên giảng dạy trình độ cao đẳng, giáo viên giảng dạy trình độ trung cấp và giáo viên giảng dạy trình độ sơ cấp.
Thông tư quy định cụ thể về nhiệm vụ; thời gian làm việc, thời gian nghỉ hằng năm; giờ chuẩn giảng dạy và định mức giờ chuẩn; chế độ dạy thêm giờ; chế độ giảm định mức giờ chuẩn và việc quy đổi các hoạt động chuyên môn khác ra giờ chuẩn.
Theo đó, một giờ chuẩn được tính đối với giờ giảng lý thuyết cho lớp tối đa 35 học viên; giờ thực hành hoặc tích hợp cho lớp tối đa 18 học viên; riêng các ngành, nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm tối đa 10 học viên/lớp. Thời gian giảng dạy trong kế hoạch đào tạo được tính bằng giờ chuẩn, trong đó 1 giờ lý thuyết (45 phút) tương đương 1 giờ chuẩn; 1 giờ tích hợp hoặc thực hành (60 phút) tương đương 1 giờ chuẩn.
Về thời gian làm việc, nhà giáo dạy trình độ cao đẳng và trung cấp có 44 tuần làm việc/năm; trong đó giảng viên cao đẳng có 32 tuần giảng dạy, giáo viên trung cấp có 36 tuần giảng dạy, thời gian còn lại dành cho học tập, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, cập nhật kỹ năng và các hoạt động chuyên môn. Nhà giáo dạy trình độ sơ cấp làm việc 46 tuần/năm, gồm 42 tuần giảng dạy. Nhà giáo giữ chức vụ cán bộ quản lý tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp làm việc 46 tuần/năm, bao gồm cả thời gian giảng dạy bảo đảm định mức theo quy định.
Định mức giờ chuẩn trong năm học được quy định theo từng trình độ: từ 350–450 giờ chuẩn đối với cao đẳng; 400–510 giờ chuẩn đối với trung cấp; 450–580 giờ chuẩn đối với sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác. Đối với nhà giáo dạy các môn học chung, định mức là 450 giờ chuẩn/năm (cao đẳng) và 510 giờ chuẩn/năm (trung cấp).
Thông tư cũng quy định định mức giờ chuẩn đối với nhà giáo giữ chức vụ quản lý hoặc làm việc tại các phòng, ban chuyên môn theo tỷ lệ phần trăm so với định mức chung, như: hiệu trưởng, giám đốc 8%; phó hiệu trưởng, phó giám đốc 10%; trưởng phòng 14%; phó trưởng phòng 18%; nhà giáo làm việc tại các phòng, ban chuyên môn 20%.
Về chế độ dạy thêm giờ, trong năm học, nếu tổng số giờ chuẩn vượt định mức thì phần vượt được xác định là giờ dạy thêm. Tổng số giờ dạy thêm không vượt quá số giờ làm thêm theo quy định của pháp luật và được thanh toán tiền lương theo quy định hiện hành.
Thông tư 05/2026/TT-BGDĐT góp phần hoàn thiện cơ chế, bảo đảm quyền lợi và trách nhiệm của đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo trong tình hình mới./.