(BNP) - Chính phủ ban hành Nghị định số 224/2026/NĐ-CP ngày 24/6/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Chuyển đổi số.
Trong đó, Nghị định quy định việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến được cung cấp theo mô hình thống nhất, tập trung từ trung ương đến địa phương trên Cổng Dịch vụ công quốc gia và Ứng dụng định danh quốc gia bảo đảm các yêu cầu tối thiểu như sau:
a) Dịch vụ công trực tuyến phải được công bố, công khai đầy đủ thông tin theo hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ;
b) Các dịch vụ công trực tuyến khi cung cấp trên môi trường số được chuẩn hóa, đồng bộ về mã, tên dịch vụ công trực tuyến theo quy định về mã, tên thủ tục hành chính, thủ tục hành chính liên thông, nhóm thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật về kiểm soát thủ tục hành chính; cung cấp biểu mẫu điện tử kèm theo; hướng dẫn quy trình sử dụng cho tổ chức, cá nhân;
c) Phát triển, sử dụng các biểu mẫu điện tử tương tác theo quy định;
d) Kết nối, khai thác dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu dùng chung của các cơ quan nhà nước khác theo quy định của pháp luật về dữ liệu để tự động điền các thông tin vào biểu mẫu điện tử và cắt giảm thành phần hồ sơ, bảo đảm nguyên tắc tổ chức, cá nhân chỉ cung cấp thông tin một lần cho cơ quan nhà nước khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến;
đ) Thanh toán trực tuyến trên nền tảng thanh toán trực tuyến đối với các dịch vụ công trực tuyến có yêu cầu nộp phí, lệ phí hoặc các nghĩa vụ tài chính khác;
e) Triển khai áp dụng chữ ký số công cộng, chữ ký số chuyên dùng cho các ứng dụng chuyên ngành đáp ứng yêu cầu về chữ ký số trong quá trình thực hiện dịch vụ công trực tuyến;
g) Thông báo tình trạng giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến cho tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật gồm tối thiểu các thông tin: cơ quan, người tiếp nhận, giải quyết hồ sơ, thời gian tiếp nhận, xử lý và trả kết quả cho tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật. Hình thức thông báo bằng phương tiện điện tử do chủ quản hệ thống chủ động lựa chọn phù hợp với điều kiện thực tiễn;
Trường hợp có thay đổi tình trạng giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến, cơ quan nhà nước phải thông báo ngay cho tổ chức, cá nhân biết để theo dõi, việc thông báo tình trạng giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến được thực hiện theo thời gian thực, dựa trên dữ liệu;
h) Các dịch vụ công trực tuyến thuộc thẩm quyền thực hiện của cơ quan nhà nước các cấp trên địa bàn tỉnh, thành phố do các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương triển khai cung cấp trên môi trường số phải được tích hợp, công bố công khai và đồng bộ thông tin tiếp nhận, xử lý hồ sơ trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp tỉnh để phục vụ hoạt động chỉ đạo, điều hành của các tỉnh, thành phố;
i) Việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia và Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính theo mô hình tập trung từ trung ương đến địa phương phù hợp với Kiến trúc hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính theo hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Về yêu cầu kỹ thuật đối với các Hệ thống thông tin cung cấp dịch vụ công trực tuyến, Nghị định quy định việc thiết kế, xây dựng, cung cấp dịch vụ công trực tuyến tuân thủ quy chuẩn, quy định kỹ thuật đối với các hệ thống thông tin cung cấp dịch vụ công trực tuyến và đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân; hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận, sử dụng dịch vụ công trực tuyến.
Hệ thống cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên môi trường số phải có giao diện thân thiện, dễ sử dụng, an toàn, bảo mật.
Theo Nghị định, dịch vụ công trực tuyến chủ động của cơ quan nhà nước được phân loại theo mức độ chủ động trong việc cung cấp dịch vụ trên môi trường số, bao gồm các mức độ sau đây:
1. Mức độ 1: Dịch vụ công trực tuyến chủ động nhắc thực hiện
2. Mức độ 2: Dịch vụ công trực tuyến chủ động nhắc và chuẩn bị hồ sơ
3. Mức độ 3: Dịch vụ công trực tuyến chủ động nhắc, chuẩn bị hồ sơ và khuyến nghị phương án dịch vụ
4. Mức độ 4: Dịch vụ công trực tuyến chủ động nhắc, chuẩn bị hồ sơ, khuyến nghị phương án dịch vụ và tự động thực hiện
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026./.