Điều kiện tự nhiên, xã hội

Cơ cấu các dân tộc tỉnh Bắc Ninh

30/03/2026 10:41

(BNP) - Là địa phương thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng và nằm trong Vùng Thủ đô, Bắc Ninh không chỉ nổi bật với truyền thống văn hiến lâu đời, mà còn là một trong những tỉnh có cơ cấu dân tộc đa dạng, phản ánh rõ nét sự giao thoa giữa lịch sử cư trú truyền thống và quá trình dịch chuyển dân cư mạnh mẽ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Theo số liệu tổng hợp từ các báo cáo rà soát, phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2025-2030, trên địa bàn tỉnh hiện có 45 thành phần dân tộc cùng sinh sống. Trong đó, dân tộc Kinh giữ vai trò chủ thể với khoảng 1.362.922 người, chiếm 91,7% dân số. Cộng đồng các dân tộc thiểu số có khoảng 123.196 người, chiếm 8,3% dân số toàn tỉnh. Ở một số thống kê mở rộng (bao gồm cả yếu tố biến động cơ học và lao động tạm trú), quy mô dân số dân tộc thiểu số có thể dao động từ trên 30 vạn đến hơn 39 vạn người, phản ánh đặc điểm dân cư linh hoạt của một tỉnh công nghiệp phát triển nhanh.

Trong nhóm các dân tộc thiểu số, một số cộng đồng có quy mô dân số tương đối lớn gồm: Hoa, Nùng, Tày, Mường, Dao, Sán Chay, Thái, Sán Dìu, H’Mông. Ngoài ra còn có Khmer, Cao Lan, Chăm và nhiều dân tộc khác với quy mô nhỏ hơn. Cơ cấu này, cho thấy tính đa dạng rõ nét về thành phần dân tộc, đồng thời vẫn bảo đảm tính ổn định về mặt nhân khẩu học khi dân tộc Kinh chiếm tỷ trọng chủ đạo.

Thiếu nữ Dao đỏ xã Vân Sơn.

Xét về không gian cư trú, cơ cấu dân tộc của Bắc Ninh thể hiện sự phân hóa rõ rệt. Toàn tỉnh hiện có 30 xã và 713 thôn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó có 164 thôn đặc biệt khó khăn. Các địa bàn này chiếm trên 57% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, tập trung chủ yếu tại các khu vực miền núi và bán sơn địa. Tại đây, tỷ lệ người dân tộc thiểu số có thể chiếm tới 36,36% dân số trong phạm vi các xã được rà soát, thậm chí ở một số địa phương đạt trên 70%, hình thành các vùng cư trú tập trung đặc trưng theo từng dân tộc.

Bên cạnh nhóm cư trú ổn định lâu đời, Bắc Ninh còn ghi nhận một đặc điểm nổi bật là sự gia tăng nhanh của lực lượng lao động dân tộc thiểu số di cư từ các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc đến làm việc trong các khu công nghiệp. Số lao động này ước khoảng trên 75.000 người, có thời điểm lên tới hơn 100.000 người, phân bố chủ yếu tại các khu công nghiệp lớn như: Yên Phong, Quế Võ, Tiên Du. Xu hướng này không chỉ làm gia tăng quy mô dân số dân tộc thiểu số mà còn góp phần hình thành cấu trúc dân cư đa văn hóa trong không gian đô thị công nghiệp.

Sự tồn tại song song của hai hình thái cư trú - ổn định truyền thống và biến động cơ học - đã tạo nên một đặc trưng riêng trong bức tranh dân tộc của Bắc Ninh. Nếu như nhóm cư trú truyền thống gắn với các làng bản miền núi, duy trì bản sắc văn hóa lâu đời, thì nhóm lao động di cư lại mang tính linh hoạt cao, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nhưng cũng đặt ra yêu cầu mới trong công tác quản lý dân cư, an sinh xã hội và bảo đảm quyền lợi người lao động.

Trên cơ sở nhận diện đầy đủ đặc điểm cơ cấu dân tộc, tỉnh Bắc Ninh đã và đang triển khai đồng bộ các chính sách dân tộc theo hướng chuyển từ “hỗ trợ” sang “phát triển bền vững”. Trọng tâm là đầu tư hạ tầng thiết yếu tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số; hỗ trợ sinh kế, giảm nghèo; nâng cao chất lượng giáo dục, y tế; đào tạo nghề gắn với nhu cầu doanh nghiệp; đồng thời tăng cường quản trị lao động di cư, xây dựng các mô hình cộng đồng trong khu nhà trọ, khu công nghiệp nhằm củng cố khối đại đoàn kết giữa các dân tộc.

Cư dân dân tộc Tày sống trong vùng lòng hồ Cấm Sơn

Việc phân định rõ các xã theo khu vực I, II, III không chỉ mang ý nghĩa quản lý hành chính mà còn là cơ sở khoa học để phân bổ nguồn lực phù hợp, triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, các nhóm dân cư.

Nhìn tổng thể, cơ cấu dân tộc của Bắc Ninh hiện nay hội tụ ba đặc trưng cơ bản: đa dạng về thành phần, phân hóa rõ rệt theo không gian cư trú chịu tác động mạnh của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa. Đây vừa là thách thức trong quản lý xã hội, vừa là nguồn lực quan trọng để hình thành một nền tảng văn hóa đa sắc, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo hướng toàn diện và bền vững.

Trong tiến trình phát triển nhanh và mạnh, bức tranh dân tộc của Bắc Ninh không chỉ phản ánh cấu trúc dân cư hiện tại mà còn cho thấy một xu hướng vận động năng động, thích ứng với yêu cầu của thời kỳ mới. Việc nhận diện đầy đủ, chuẩn hóa dữ liệu và hoạch định chính sách phù hợp sẽ tiếp tục là yếu tố then chốt để tỉnh phát huy hiệu quả nguồn lực con người, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo nền tảng vững chắc cho phát triển lâu dài./.

Nguyễn Phượng