(BNP) - Bộ Xây dựng vừa ban hành Thông tư quy định về bảo trì công trình hàng hải và tần suất khảo sát thông báo hàng hải. Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2026, thay thế Thông tư số 19/2022/TT-BGTVT ngày 26/7/2022 của Bộ Giao thông vận tải.
Ảnh minh họa (nguồn Internet).
Quy định toàn diện về bảo trì công trình hàng hải
Thông tư quy định cụ thể về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, trình tự, quy trình, nội dung và chi phí bảo trì công trình hàng hải.
Đối tượng công trình được bảo trì bao gồm: Bến cảng, cầu cảng; khu chuyển tải, khu neo đậu, khu tránh, trú bão, vùng đón trả hoa tiêu; luồng hàng hải; công trình sửa chữa, đóng mới tàu biển; đèn biển; phao, tiêu báo hiệu hàng hải; hệ thống VTS; công trình chỉnh trị (đê chắn sóng, đê chắn cát, kè hướng dòng, kè bảo vệ bờ); hệ thống thông tin duyên hải và các công trình, hệ thống phục vụ quản lý, bảo trì.
Việc bảo trì được thực hiện theo quy định của Nghị định số 06/2021/NĐ-CP và các văn bản pháp luật liên quan, bảo đảm duy trì trạng thái làm việc bình thường, an toàn của công trình trong suốt quá trình khai thác, sử dụng.
Hằng năm, Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam có trách nhiệm lập kế hoạch bảo trì công trình hàng hải do Bộ Xây dựng quản lý, gửi Bộ trước ngày 15/6 để tổng hợp dự toán ngân sách. Kế hoạch bảo trì được phê duyệt trên cơ sở dự toán được giao và có thể điều chỉnh trong quá trình thực hiện theo quy định.
Đối với công trình do tổ chức, cá nhân khác quản lý, chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử dụng công trình có trách nhiệm lập, phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch bảo trì; đồng thời gửi kế hoạch và báo cáo kết quả thực hiện về Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam để theo dõi, tổng hợp.
Siết chặt quan trắc, đánh giá an toàn công trình
Thông tư quy định danh mục công trình hàng hải phải quan trắc trong quá trình khai thác, sử dụng như: bến cảng biển cấp I trở lên; bến cảng hành khách; bến cảng, cầu cảng tiếp nhận tàu biển giảm tải có thông số kỹ thuật lớn hơn công bố; công trình sửa chữa, đóng mới tàu biển cấp I trở lên; công trình chỉnh trị cấp I trở lên.
Công tác quan trắc phải xác định rõ đối tượng, thông số, chu kỳ đo và giá trị giới hạn; trường hợp số liệu vượt ngưỡng cho phép phải tổ chức kiểm định, đánh giá nguyên nhân và kịp thời xử lý.
Đáng chú ý, Thông tư quy định cụ thể thời điểm và tần suất đánh giá an toàn đối với bến cảng, cầu cảng tiếp nhận tàu biển giảm tải có thông số kỹ thuật lớn hơn so với Quyết định công bố. Việc đánh giá lần đầu thực hiện sau 01 năm kể từ khi tiếp nhận lượt tàu đầu tiên hoặc sau khi tiếp nhận đủ 40 lượt tàu (tùy điều kiện nào đến trước); các lần tiếp theo thực hiện sau 03 năm hoặc sau 120 lượt tàu (tùy điều kiện nào đến trước).
Trong thời gian 12 tháng kể từ ngày Thông tư có hiệu lực, các bến cảng, cầu cảng đã tiếp nhận tàu biển giảm tải vượt thông số công bố phải thực hiện đánh giá an toàn lần đầu theo quy định mới.
Quy định cụ thể tần suất khảo sát phục vụ thông báo hàng hải
Thông tư dành một chương quy định chi tiết về tỷ lệ bình đồ và tần suất khảo sát luồng hàng hải, khu neo đậu, khu tránh trú bão, vùng đón trả hoa tiêu và vùng nước trước bến cảng, cầu cảng, khu chuyển tải.
Tần suất khảo sát được xác định theo phương thức chấm điểm, với thang điểm 100 dựa trên các tiêu chí như: mức độ bồi lắng, mật độ tàu thuyền, trọng tải tàu lớn nhất, phân cấp công trình.
Đối với luồng hàng hải công cộng, tần suất khảo sát dao động từ 02 tháng/lần đến 03 năm/lần tùy theo tổng điểm đánh giá. Khu neo đậu, khu tránh trú bão, vùng đón trả hoa tiêu được khảo sát từ 01 năm/lần đến 05 năm/lần theo mức điểm. Vùng nước trước bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu chuyển tải có tần suất từ 01 đến 03 năm/lần.
Các tuyến, khu vực mới công bố hoặc sau khi nạo vét cải tạo, nâng cấp phải khảo sát với tần suất 06 tháng/lần (đối với luồng) hoặc 12 tháng/lần (đối với vùng nước trước bến) trong 03 năm đầu, nhằm theo dõi mức độ bồi lắng và bảo đảm an toàn hàng hải.
Định kỳ 03 năm một lần, Bộ Xây dựng và Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam công bố, cập nhật danh mục định kỳ khảo sát các tuyến luồng, khu neo đậu và vùng nước theo thẩm quyền.
Việc ban hành Thông tư nhằm hoàn thiện khung pháp lý về bảo trì công trình hàng hải, nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác kết cấu hạ tầng hàng hải, bảo đảm an toàn, thông suốt hoạt động vận tải biển trong tình hình mới./.