(BNP) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định quy định về một số chính sách đầu tư trong lâm nghiệp.
Ảnh minh họa.
Nghị định quy định một số chính sách về đầu tư bảo vệ và phát triển rừng, chế biến lâm sản; áp dụng đối với cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư có liên quan đến hoạt động bảo vệ và phát triển rừng.
Tăng mức hỗ trợ bảo vệ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ
Theo Nghị định, đối với rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, Nhà nước cấp kinh phí bảo vệ rừng bình quân 500 nghìn đồng/ha/năm đối với Ban quản lý rừng; 1 triệu đồng/ha/năm đối với cộng đồng dân cư; 300 nghìn đồng/ha/năm đối với UBND cấp xã quản lý diện tích rừng chưa giao, chưa cho thuê.
Kinh phí bảo vệ rừng tại khu vực II, III được tính bằng 1,2 lần mức bình quân; vùng đất ven biển bằng 1,5 lần mức bình quân. Ngoài ra, quy định chi phí lập hồ sơ lần đầu và kinh phí quản lý, kiểm tra, nghiệm thu bảo vệ rừng bằng 7% tổng kinh phí chi hằng năm.
Nội dung chi tập trung vào khoán bảo vệ rừng; chi trả công cho lực lượng bảo vệ rừng; mua sắm, sửa chữa trang thiết bị; phòng cháy, chữa cháy rừng; theo dõi, giám sát diễn biến tài nguyên rừng; tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng.
Hỗ trợ phát triển sinh kế vùng đệm rừng đặc dụng
Cộng đồng dân cư thuộc vùng đệm các khu rừng đặc dụng được hỗ trợ bình quân 100 triệu đồng/cộng đồng/năm để phát triển sinh kế, cải thiện đời sống.
Nội dung hỗ trợ ưu tiên khuyến nông, khuyến lâm; giống cây trồng, vật nuôi; thiết bị chế biến nông lâm sản quy mô nhỏ; vật liệu xây dựng công trình công cộng như nước sạch, điện chiếu sáng, đường giao thông thôn, nhà văn hóa…
Việc hỗ trợ gắn với điều kiện cộng đồng bảo vệ rừng tốt, không để xảy ra vi phạm nghiêm trọng và không trùng lặp với các chương trình, dự án khác.
Đẩy mạnh trồng rừng sản xuất, rừng gỗ lớn
Đối với rừng sản xuất, Nghị định quy định hỗ trợ bảo vệ rừng tự nhiên trong thời gian đóng cửa rừng; hỗ trợ khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên; hỗ trợ trồng rừng sản xuất và phát triển lâm sản ngoài gỗ.
Hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư tại vùng biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được hỗ trợ một lần bình quân 15 triệu đồng/ha/chu kỳ để trồng rừng sản xuất; hỗ trợ 500 nghìn đồng/ha/năm cho công tác khuyến lâm; hỗ trợ chi phí khảo sát, thiết kế, quản lý theo dự toán được duyệt.
Đối với trồng rừng gỗ lớn, hộ gia đình, cá nhân được ngân sách địa phương hỗ trợ chênh lệch lãi suất vay thương mại so với lãi suất tín dụng đầu tư của Nhà nước, thời gian hỗ trợ tối đa 12 năm, mức vay được hỗ trợ không quá 70% tổng vốn vay.
Ngoài ra, Nghị định còn quy định hỗ trợ xây dựng phương án quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững (tối đa 400 nghìn đồng/ha); hỗ trợ đầu tư xây dựng đường lâm nghiệp (tối đa 450 triệu đồng/km) và đường băng cản lửa (tối đa 100 triệu đồng/km) tại các khu rừng sản xuất tập trung từ 500 ha trở lên; khuyến khích hợp tác, liên kết trồng rừng gắn với chế biến và tiêu thụ lâm sản./.