Tiềm năng phát triển tỉnh Bắc Ninh
Tỉnh Bắc Ninh tiếp tục khẳng định là một trong những địa phương phát triển năng động của Vùng Thủ đô và Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đóng góp tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quy mô kinh tế tiếp tục nằm trong nhóm các tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước, khẳng định là một trong những địa phương phát triển năng động của Vùng Thủ đô, Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2024 đạt 232,8 nghìn tỷ đồng (theo giá hiện hành) tăng 6,03% so với năm 2023; bình quân giai đoạn 2021-2025 tăng 3,42%-3,8%/năm; Quy mô kinh tế năm 2025 đạt 245-250 nghìn tỷ đồng, chiếm gần 2,2% GDP cả nước; GRDP bình quân đầu người ước đạt 6.653-6.778 USD, gấp 1,3 lần bình quân cả nước; năng suất lao động bình quân tăng 2,86%/năm, xấp xỉ mức tăng của cả nước. Năm 2024, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 70,3%; khu vực dịch vụ chiếm 22,34%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 3,02%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 4,34%.
Về thu hút đầu tư nước ngoài: Trong 4 tháng đầu năm 2025, toàn tỉnh đã cấp đăng ký đầu tư cho 87 dự án với tổng vốn đầu tư sau điều chỉnh đạt 2 tỷ USD (trong đó Quý I/2025, Bắc Ninh tiếp tục duy trì vị trí dẫn đầu cả nước về thu hút đầu tư). Lũy kế đến nay, tỉnh Bắc Ninh đã cấp đăng ký đầu tư cho 2.475 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký sau điều chỉnh và góp vốn đạt 31.041,56 triệu USD (đứng thứ 7 cả nước về quy mô vốn thu hút) đến từ 42 quốc gia, vùng lãnh thổ. Bắc Ninh tiếp tục là điểm đến được các tập đoàn lớn trong ngành công nghiệp điện tử, bán dẫn lựa chọn (Samsung, Amkor, Foxconn, Canon, Goertek…);
Về thu hút đầu tư trong nước: Trong 4 tháng đầu năm 2025, toàn tỉnh cấp mới đăng ký đầu tư cho 51 dự án đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký sau điều chỉnh đạt 150.460,9 tỷ đồng. Lũy kế đến nay, tỉnh Bắc Ninh đã cấp 1.656 dự án đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư sau điều chỉnh đạt 429.044,085 tỷ đồng.
Về phát triển các Khu công nghiệp, cụm công nghiệp: Trên địa bàn tỉnh có 16 KCN tập trung được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển với tổng diện tích 6.397,68 ha; Có 12/16 KCN đã đi vào hoạt động; Có 15 Khu công nghiệp đã được thành lập với diện tích 5.946,99 ha; Các KCN được thành lập có diện tích đất công nghiệp đã cho thuê khoảng 2.524,02 ha. Tỷ lệ lấp đầy trên diện tích đất công nghiệp cho thuê theo quy hoạch đạt 61,1 %. Số lao động đang làm việc ở các khu công nghiệp 294.127 lao động.
Ngoài ra tỉnh còn có 39 CCN có trong quy hoạch với diện tích 1.175,12ha, đã thành lập được 37 CCN với diện tích là 1.110,12 ha, trong đó: có 35 CCN đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết với tổng diện tích 1.050,12ha; có 26 CCN đã đi vào hoạt động với diện tích 769,66ha. Tổng số dự án đầu tư trong các CCN là 870 dự án với tổng số vốn đăng ký là 3.953 tỷ đồng. Các CCN đã tạo việc làm cho 12.128 người.
Tiềm năng phát triển tỉnh Bắc Giang
Trong những năm qua, tỉnh Bắc Giang đã có những thay đổi căn bản về mọi mặt kinh tế - xã hội, tập trung phát triển kinh tế, trong đó xác định Công nghiệp là ngành kinh tế quan trọng, hiện toàn tỉnh có 16 KCN và 55 CCN đã được thành lập, tổng diện tích 6.013 ha, đã giải quyết việc làm cho 342.000 lao động, trong đó lao động ngoài tỉnh khoảng 90.000 lao động.
Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm (GRDP) bình quân giai đoạn 2022-2024 đạt 16%/năm, luôn đứng đầu vùng trung du và miền núi phía Bắc, thuộc nhóm các tỉnh có tốc độ tăng trưởng dẫn đầu cả nước. Trong đó, năm 2022 đạt 19,3%, đứng thứ 2, năm 2023 đạt 14,99%, đứng thứ nhất và năm 2024 đạt 13,9%, đứng đầu cả nước. Quy mô GRDP năm 2024 (giá hiện hành) đạt 207 nghìn tỷ, gấp 1,6 lần năm 2021, đứng thứ 12 cả nước; GRDP bình quân đầu người năm 2024 đạt 4.370 USD. Chất lượng tăng trưởng được cải thiện; tỷ lệ đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt 32,5%. Thu hút đầu tư trong 3 năm 2022, 2023, 2024 trên 7,04 tỷ USD, nguồn vốn FDI Bắc Giang luôn đứng trong top 10 của cả nước, trong đó năm 2023 đứng thứ 3/63 tỉnh, thành phố.
Cơ cấu kinh tế dịch chuyển mạnh theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp; trong đó Công nghiệp - xây dựng chiếm 67,5%(Công nghiệp chiếm 61,9%, xây dựng chiếm 5,6%); dịch vụ (bao gồm cả thuế sản phẩm) chiếm 20,7%; nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 11,8%. Cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch mạnh từ lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản sang lĩnh vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Năm 2024, tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp xây dựng chiếm 50,6%, ngành dịch vụ chiếm 25,1% và ngành nông, lâm nghiệp thủy sản chiếm 24,3%.
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) năm 2022 tăng 31,5%, năm 2023 tăng 20,36%, năm 2024 tăng 30,0%. Giá trị sản xuất (GTSX) công nghiệp (giá hiện hành) năm 2024 đạt 684.397 tỷ đồng, vượt 3,0 kế hoạch. Khu vực DN FDI vẫn là khu vực đóng góp chính vào phát triển công nghiệp của tỉnh; GTSX khu vực này đạt hơn 600.231 tỷ đồng, tăng 29,9% so với năm 2023 chiếm 88% khu vực DN ngoài nhà nước đạt 73.083 tỷ đồng, chiếm 10%; khu vực DN nhà nước đạt 11.082 tỷ đồng, tăng 0,7% chiếm xấp xỉ 2%.